SƯ BÀ THỊ GIẢ
(Người hậu phương)
By TS. Kim Lan (Mỹ Thúy)
Ngày ấy của năm 2021, trước dịch bệnh Covid-19 bùng phát nhiều nơi, lúc ấy còn trong vòng kiểm soát, nhóm chúng tôi gồm tín nữ Du Mỹ Lan, tín nữ Lê Ngọc Châu, tín nữ Như Duyên và sư cô Kusuma tìm đến sư bà Diệu Bông khi được các ngài trưởng lão tiền bối chỉ dẫn tôi rằng: muốn biết thông tin sư bà Trưởng thì tìm “bà Diệu Bông hay còn gọi là cô Tư Bông”, cô ấy là người thân cận với sư bà trưởng nhất, suốt cuộc đời xuất gia của cô Tư Bông luôn sống thân cận với sư bà Trưởng. Theo lời quý ngài, chúng tôi đến Tổ đình Bửu Long – nơi sư bà Diệu Bông cư trú tu học từ trước 1975 đến nay. Rồi như một ngày chìm trong cổ tích, lắng nghe sư bà thị giả kể chuyện hồi xửa hồi xưa khi mới gặp sư bà Trưởng và phát nguyện xuất gia theo phục vụ sư bà Trưởng.
Và hôm nay, chạm mốc 30 năm sư bà Trưởng vắng bóng, chúng tôi được hữu phước hữu duyên viết lên đôi dòng về vị thị giả trung thành của sư bà Trưởng với cái tên đặc thù riêng, chúng tôi xin phép gọi là “sư bà thị giả”. Không lẫn lộn vào đâu khi cả đời sư bà trưởng chỉ có duy nhất sư bà Diệu Bông làm thị giả dù hội chúng rất đông và cung kính sư bà Trưởng nhưng để làm thị giả thì phải đủ đức hy sinh, khiêm hạ, và thật nhiều tinh tấn mới có thể đồng hành xuôi ngược trên hành trình hoằng pháp của sư bà Trưởng. Và sư bà Diệu Bông hội đủ đức tánh ấy nên đã trở thành vị thị giả trên vạn nẻo đường phụng sự Tam Bảo của sư bà trưởng Diệu Đáng – Ni Tổ Theravada Việt Nam.
Nhưng!
Sự trùng phùng nào cũng tới ngày chia ly…Sự hiện hữu muôn màu sắc của vạn vật trên thế gian đã nói lên những sự khác biệt khi cùng có mặt trên vũ trụ, và vũ trụ cứ xoay vầng như thế… ngày đêm… bao sinh vật cũng hiện hữu trong sinh tử… Con người cũng trong tình trạng biến đổi không ngừng trong từng sát na đến đi không dừng… Ai còn hiện hữu tấm thân ngũ uẩn này cũng không thoát khỏi quy luật vô thường ấy… Biết là biết vậy, nhưng phàm sống trong cuộc đời sao tránh khỏi buồn vui trong cảnh bệnh đau – sinh ly tử biệt… Đôi khi sự nhớ nhung thương tiếc ấy mới gọi là sống tình sống nghĩa trên cõi nhân gian này. Đúng là thế! Từ ngày sư bà trưởng Diệu Đáng vắng bóng ra đi… sư bà thị giả Diệu Bông sống lặng lẽ một mình trong cốc dù hội chúng chung quanh không ít người nhưng chỉ có sư bà thị giả mới cảm nhận sự trống vắng trong tâm hồn mình chính là mất đi hình bóng sư bà Trưởng.
Thỉnh thoảng những giọt nước mắt lăn tròn trên má sư bà thị giả trông ánh nhìn xa xăm hồi ức về Người thầy khả kính là sư bà trưởng Diệu Đáng như để nói lên điều muốn nói rằng: “ thiếu sư bà Trưởng thì dường như thiếu rất nhiều … nhất là thiếu niềm vui chia sẻ tâm tình trong Phật pháp. Dẫu biết tam tướng luôn chi phối tất cả… ai rồi cũng thế… nhưng trong hoàn cảnh sư bà thị giả khi gặp sư bà Trưởng cưu mang thời chiến tranh giặc giả thì lại càng đặc biệt hơn.
Thời ấy, vào thập niên 1940, sư bà trưởng Diệu Đáng đã xuất gia tu nữ tại Nam Vang – Campuchia, lúc ấy sư bà Diệu Bông đang sống với gia đình ông Lê Văn Hậu và bà Hứa Hóc Kiển gần chợ Lớn Mới tại thành phố Phnom-Pênh. Sư bà Diệu Bông được sinh ra vào ngày 15 tháng 04 năm 1939 (căn cước công dân là 1937), là con gái thứ tư của ông Nguyễn Văn Tốt và bà Võ Thị Mai. Gia đình sư bà có ba người con gái và 1 người trai nhưng tất cả đã ra đi từ sớm, chỉ còn một mình sư bà sống sót, được vợ chồng bà Kiển nhận nuôi. Lớn lên tại thành phố chùa tháp nên hình ảnh tu sĩ Phật giáo rất thân quen với sư bà. Giai đoạn đó lại là thời kỳ sư tổ Hộ Tông và sư bà trưởng Diệu Đáng thường xuyên qua lại Campuchia, nên một ngày đẹp trời như được sắp đặt từ ngàn kiếp trước đã dẫn dắt sư bà Diệu Bông gặp sư tổ Hộ Tông và sư bà trưởng tại chùa Chroy Chonwa trong ngày trai giới. Cả ngày hôm đó, tâm hồn sư bà Diệu Bông vui lâng lâng như vớ được chiếc phao giữa biển trùng khơi, cảm giác ấy tựa như giọt nước cuối cùng làm tràn bình khi Sư Tổ chỉ mở lời thích đi tu không, vào tu cùng cô Diệu Đáng… Lúc ấy, Sư bà Diệu Bông không còn lời nào hơn là quyết định tức thì đi tu… và được sự hướng dẫn của Sư Tổ, sư bà về xin phép ba mẹ nuôi để được xuống tóc thọ giới nữ tu, và từ đó theo gót chân sư bà Trưởng vừa như người bạn cùng tu, vừa như người em gái của sư bà Trưởng và quan trọng trên hết là nhận vai trò làm thị giả cho sư bà trưởng Diệu Đáng. Sư bà Diệu Bông được sư bà Trưởng
xuống tóc và sư tổ Hộ Tông truyền giới vào ngày 15 tháng 4 âm lịch năm 1955, trong mùa Phật Đản – Vesak Phật lịch 2499, như vậy sư bà Diệu Bông xuất gia vào đạo trong độ tuổi trăng tròn 16. Niềm hạnh phúc nương tựa thiền môn từ đó, sự ấm áp trong tình thương của Sư Tổ và sư bà Trưởng, một vị nữ tu trẻ vốn mồ côi từ năm lên 4, đã cảm thấy đủ đầy dù phục vụ mọi việc vất vả, lòng luôn tràn đầy hoan hỷ khi được sống trong tình thương đạo pháp. Sống trọng nghĩa trọng tình và sống thọ pháp xuất gia giải thoát, cả hai pháp ấy như hòa quyện vào nhau trong cuộc đời của sư bà Diệu Bông. Gần như cuộc đời sư bà Trưởng và vị thị giả như hai mảnh ghép thích hợp tựa nhau trong tinh thần hỗ tương vươn lên trong tu tập và phụng sự Tam Bảo. Những năm tháng ban sơ ấy là giai đoạn sư tổ Hộ Tông tu học tại Nam Vang, thỉnh thoảng về Việt Nam hoằng pháp. Sư bà thị giả đã cùng sư bà Trưởng theo gót chân Sư Tổ. Nơi nào dừng chân lập chùa thì sư bà thị giả luôn đảm nhiệm vai trò phục vụ mọi mặt từ công việc cơm nước đến giặt giũ y phục cho cả sư bà Trưởng và sư Tổ.
Năm tháng dần trôi, suốt chặng đường 10 năm sư bà Trưởng đi du học ở Miến Điện, và sau khi về nước, sư bà thị giả luôn phải kiêm nhiều việc lớn nhỏ trong sinh hoạt bổn tự, gọi chung là vai trò “hộ tăng”. Bởi chùa chiền nào gầy dựng nên cũng cần ban hậu cần chuyên lo vật thực cho bổn tự, và sư bà thị giả luôn vị trí then chốt. Thường ban hậu cần là những gương mặt giồi giàu đức hy sinh mới có thể giữ vững thế đứng gần lửa nóng nhưng tâm vẫn mát mẻ, đem lại sự ấm áp bao tử cho Tăng chúng cả chùa có sức khỏe để tu học, phụng sự đạo pháp. Dù vị trí sư bà thị giả Diệu Bông ở hậu phương nhưng là người nồng cốt nhất, quyết định sức khỏe cả bổn tự. Từng hạt gạo tạo nên bát cơm, từng cọng rau cho ra dĩa rau luộc, tô canh ngon ngọt vừa miệng cho cả tập thể,.. Thời đó thì nào có bếp ga lửa điện như bây giờ mà tất cả bếp cơm đều từ lửa củi… Sư bà thị giả chắt mót từng đóng lá khô, từng que củi để dành sẵn để luôn có đủ củi chụp mỗi ngày cơm cho tập thể chư Tăng và Phật tử làm công việc chùa. Chẳng những quây quần bên bếp núc, sư bà thị giả còn phải cuốc bộ đường đất đi chợ mua sắp vật thực mỗi ngày. Thời
ấy nào có hônda taxi grab như bây giờ. Mỗi thứ sinh hoạt đều phải dùng công sức lao động chân tay tạo nên, chính vì vậy người đứng trụ cột ban hậu cần như sư bà thị giả phải là người vô cùng giàu nghị lực cả về tâm lực, trí lực, sức lực mới đam đương nổi việc phục vụ mỗi bữa cho chư Tăng an tâm tu học. Đôi khi có những việc tưởng chừng như phụ nữ khó có thể gánh vác đường dài nhưng với tâm hồn ý chí sắt đá hết lòng vì Tam Bảo, sư bà thị giả đã không nệ hạ, không than vãn mệt mỏi, quay từng thùng nước giếng, gánh từng cặp nước trên đôi vai trong thân hình nhỏ bé về nhà bếp chùa để có nước sinh hoạt cho khâu nấu nướng. Một ngày như mọi ngày, sư bà phải dậy từ sớm để tờ mờ sáng có phần điểm tâm cho cả chùa và tiếp đến là lo bữa cơm trưa,.. Bao việc để có bữa cơm chỉnh chu sạch đẹp thơm ngon là nhờ vào bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo dai nhanh nhẹ của sư bà thị giả và trên hết là tấm lòng phụng sự Tam Bảo của sư bà thị giả luôn hoàn hảo trong sáng. Dù đổ mồ hôi bên cạnh bếp lửa nhưng tâm hồn sư bà Diệu Bông vẫn một mực hoan hỷ phục vụ với tâm mong chư Tăng đủ đầy sức khỏe để tu học và hoằng dương
chánh pháp. Có những lúc chư Tăng hội về chùa đông đúc để thăm viếng Sư Tổ, sư bà Trưởng cũng vén tay áo vào bếp phụ tiếp thị giả.
Sư bà thị giả Diệu Bông thì lúc nào cũng sống như đúng cái tên Diệu Bông của mình. Sư bà thị giả luôn có gương mặt hoan hỷ vui vẻ niềm nở với mọi người dù rất vất vả chi li từng việc lớn nhỏ, chăm chút trong từng món ăn để có bữa cơm hoàn hảo mỗi ngày. Sự chịu thương chịu khó của sư bà thị giả không chỉ phục vụ trước hội chúng tập thể mà tấm lòng trung hậu ấy còn âm thầm đồng hành cùng sư bà trưởng trải qua hai năm chăm sóc thân mẫu của sư bà trưởng Diệu Đáng từ năm 1966 đến cụ bà từ trần năm 1968 tại núi Xà – xía. Thời điểm ấy Việt Nam – Campuchia còn nằm trong khói lửa chiến tranh khốc liệt, đạn bơm tứ phía, mạng sống luôn bị đe dọa. Thế mà sư bà thị giả vẫn một lòng trung kiên không vãn than cực nhọc, chỉ có hai thầy trò thay nhau chăm sóc nuôi cụ bà; sau khi cụ bà qua đời, sư bà trưởng phải ở lại nơi ấy ba tháng lo hậu sự cùng trai đàn dâng phước cho mẹ. Sư bà thị giả Diệu Bông luôn ngày đêm kề vai sát cánh cùng thầy trong mưa đạn. Có hôm bơm đạn nổ liên hồi kéo dài suốt đêm của năm Mậu Thân 1968, sư bà Trưởng đang thiền tọa tại miệng hang động núi Xà-xía, sư bà Trưởng và sư bà thị giả phải lùi vào hang tránh đạn. Trong đêm tối mịt, không đèn pin, không hột quẹt,.. hai thầy trò dùng tay lần dò trên vách đá tìm thế đi vào hang sâu hơn, rồi thiền tọa suốt đêm trong tư thế đâu lưng nhau. Sau đó cả hai sư bà vượt hằng nhiều cây số bằng đôi chân nhỏ bé của mình về tới tổ đình Bửu Long. Từ đó sư bà thị giả được coi như người con gái của Sư Tổ. Sư bà thị giả Diệu Bông là người đồng cam cộng khổ vào sinh ra tử với sư bà Trưởng, đi đâu lúc nào trong công việc hoằng pháp của Sư Tổ và sư bà Trưởng, sư bà thị giả luôn được chọn đồng hành.
Cứ thế từ chùa này đến chùa khác, theo bước chân vân du hoằng đạo, sư tổ Hộ Tông, sư bà thị giả lẽo đẽo theo sau vừa chăm sóc sư bà Trưởng và cũng kiêm phục vụ vật thực cho Sư Tổ và đoàn chư Tăng. Hình ảnh sư bà thị giả lúc đó tựa như vịchư thiên hộ pháp luôn có mặt trên từng cây số cùng chư Tăng trong giai đoạn truyền bá Phật giáo Theravada trên nước Việt Nam. Thân hình tuy nhỏ nhắn nhưng chứa đựng cả khí chất của người chiến sỹ chân cứng đá mềm luôn xông pha tiến tới vì duy trì và phát triển Phật Pháp. Chư Tăng là rường cột của ngôi nhà Phật Pháp, vì vậy hai tiếng “hộ Tăng” không hề bé nhỏ mà chứa đựng cả quy trình sống thừa tự pháp, làm giáo pháp rực sáng. Sự hy sinh ẩn sau hai tiếng “hậu cần” để Tăng đoàn vững bước tiến về phía trước xé màng vô minh cắt dòng sinh tử là nhờ bàn tay của ban hậu cần như sư bà thị giả Diệu Bông. Sự chìm nổi lăn lóc theo gót đoàn hoằng pháp của sư tổ Hộ Tông, sư bà thị giả gần như quên nghĩ về bản thân mình, chính sự tận tụy, tận tâm trong hạnh phục vụ của người giữ vai trò thị giả trong đoàn nên sư bà Diệu Bông được các vị trong đoàn thương mến. Có vị dành thời gian chép tay từng bài kinh trong chánh tạng, có vị thì viết thơ đạo, hay những câu danh ngôn, lời hay ý đẹp mang tính giáo dục rèn luyện bản thân, chép tay chung 1 quyển tập nhỏ đề tặng sư bà. Quyển tập ấy được chép vào năm 1976-1978, dù bút tích đã nửa thế kỷ nhưng vẫn còn màu mực rõ nét trên từng con chữ; có cả chữ ký của người viết, đó là ngài trưởng lão Bửu Đức – vị trụ trì chùa Hương Đạo tại Texas, Hoa Kỳ, cô tín nữ Đặng Xuân Nga đang định cư ở Thụy Sỹ (thời ấy cô Nga đang là nữ tu – sư muội của sư bà Diệu Bông). Thật là thâm tình đạo vị giữa các bậc chân tu với nhau, luôn quan tâm hỗ tương nhau trong tu tập, giúp đỡ qua lại. Người phục vụ bếp cơm, người thọ nhận bát cơm đáp lại công sức ấy là món quà pháp bảo bằng tập kinh chép tay. Đã nửa thế kỷ, với ngần ấy thời gian mà quyển tập kinh chép tay vẫn được sư bà thị giả Diệu Bông gìn giữ nguyên vẹn. Thật là một tấm lòng tôn kính pháp bảo và trân quý món quà pháp bảo từ huynh đệ đồng môn.
Năm nay, năm 2024 là điểm mốc tròn 30 năm sư bà trưởng Diệu Đáng tịch diệt, vị thị giả duy nhất của sư bà Trưởng cũng đã 85 tuổi, sức khỏe đã mỏi mòn nhưng vẫn minh mẫn. Sư bà được gia đình cô tín nữ Lê Ngọc chăm sóc. Chính bà ngoại và ba má của cô Ngọc hồi xưa từng là người đùm bộc cưu mang sư bà thị giả từ năm lên bốn tuổi sau khi song thân qua đời. Gia đình cô Ngọc đã coi sư bà như con cháu ruột, nuôi nấng sư bà khôn lớn, và hôm nay sư bà vào tuổi hoàng hôn bóng xế cũng chính gia đình ấy đã chăm sóc đỡ đần sư bà từng bát nước chén cơm thang thuốc. Thật là nghĩa tình, thật là chân tình trong tình pháp quyến.
Hàng hậu bối chúng con may mắn biết được sư bà thị giả Diệu Bông, chúng con rất biết ơn sư bà Diệu Bông đã đến với cuộc đời này làm thị giả cho sư bà trưởng Diệu Đáng – vị nữ tu đầu tiên của nước Việt – vị Ni Tổ khai sáng dòng nữ Tu Theravada tại Việt Nam. Sự hoàn hảo trong vai trò thị giả, trong cương vị hậu cần đã tiếp sức cho đoàn chư Tăng làm nên trang sử đẹp cho Phật giáo Theravada trên tổ quốc Việt Nam. Hàng hậu bối chúng con kính tri ân sư bà Diệu Bông, xin tùy hỷ công đức bao giọt mồ hôi sư bà đã đổ ra, bao đêm khuya sớm phục vụ chùa chiền, cung kính Tam bảo. Chúng con kính chúc sư bà thị giả kính yêu luôn an lạc cát tưởng, an nhiên tĩnh lặng trong tấm thân tứ đại giả tạm này để tiến bước hành hình giác ngộ hướng tới bờ giác. Kính đảnh lễ kính biết ơn sư bà thị giả Diệu Bông. Chúng con mãi ghi nhớ tấm gương lành trong sáng, công hạnh vị thị giả đảm đang trung hậu trong làng hậu cần thị giả như sư bà Diệu Bông – người hậu phương chân chất – chân tình.
(Bài viết dựa vào lời kể của sư bà thị giả Diệu Bông,
ngài trưởng lão Satima (Hoa Kỳ), ngài trưởng lão Bửu Đức (Hoa Kỳ) sư thúc Chơn Thể,
thiền viện Viên Không, núi Dinh, Bà Rịa Vũng Tàu)



