Tóm Lược Lịch Sử Ra Đời Ni Chúng Tu Nữ Nam Tông và thực trạng Tu Nữ Việt Nam

    TN.TS. Mỹ Thúy
  1. Thời kì hình thành và vắng bóng ni đoàn Tỳ-khưu-ni

Lịch sử thành lập ni đoàn Tỳ-khưu-ni trong Phật giáo Nam tông (Theravāda) được tìm thấy trong nguồn kinh Pali ở Tăng Chi bộ (Aṅguttara Nikāya) của tạng Kinh (Sutta Piṭaka), phần thứ tám có phẩm Gotami (Gotamivagga), đây là phẩm tường thuật giai thoại  lịch sử hình thành giáo đoàn Tỳ-khưu-ni (Bhikkhunī Sangha). Cũng vậy, trong tạng Luật (Vinaya pitaka), phần Tiểu phẩm (Cullavagga) có chương Tỳ-khưu-ni (Bhikkhunikkhandhaṃ), ghi nhận toàn bộ quá trình hình thành ni đoàn Tỳ-khưu-ni trong ngày đầu tiên. Đó là sự xuất gia của di mẫu Gotami bằng cách thọ trì bát kỉnh pháp (aṭṭha garu dhamma)[1] và một số đông phụ nữ dòng họ Thích Ca (Sakya) được chư Tăng làm lễ cho xuất gia Tỳ-khưu-ni hôm đó. Sự kiện lịch sử này đã xảy ra vào hạ thứ 5 của Đức Phật tại thành phố Vesāli.[2]

       Bát kỉnh pháp gồm:

1. Tỳ-khưu-ni, dầu được trăm tuổi hạ, phải chào hỏi một Tỳ-khưu, phải đứng dậy trước vị Tỳ-khưu, đảnh lễ và thực hành bổn phận đối với Tỳ-khưu, mặc dầu vị này chỉ mới xuất gia ngày hôm ấy.

  1. Tỳ-khưu-ni không nên an cư mùa mưa ở nơi không có Tỳ-khưu.
  2. Đến kỳ sám hối, Tỳ-khưu-ni phải hỏi các Tỳ-khưu chừng nào có lễ Uposatha và giờ nào các ngài đến họp.
  3. Khi mãn thời gian an cư mùa mưa, mỗi Tỳ-khưu-ni phải hành lễ Tự Tứ (Pavāraṇa), chánh thức ra hạ trước mặt những vị Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni khác.
  4. Tỳ-khưu-ni đã phạm trọng tội phải chịu phạt Mānatta trước chư Tăng và chư Ni.
  5. Người nữ đang học tập (Sikkhamānā) đã thọ trì sáu giới trong thời gian hai năm, có thể xuất gia Tỳ-khưu-ni trước chư Tăng và chư Ni.
  6. Bất luận ở trường hợp nào, Tỳ-khưu-ni không có quyền khiển trách hay nặng lời với Tỳ khưu.
  7. Từ nay về sau, Tỳ-khưu-ni không thể khuyên răn những Tỳ khưu, nhưng Tỳ khưu có thể khuyên răn Tỳ-khưu-ni.

Rồi theo năm tháng phát triển giáo đoàn Tỳ-khưu-ni, đã phát sinh ra nhiều sự cố khác nhau gây ảnh hưởng không tốt đẹp cho hội chúng xuất gia nên Đức Phật đã ban hành nhiều giới cấm khác. Tính đến thời điểm Đức Thế Tôn viên tịch Niết-bàn thì luật Tỳ-khưu-ni gồm có 311 giới. Phần này đã ghi nhận trọn vẹn trong bộ luật thuộc hệ kinh điển Pali của truyền thống Phật giáo Nam tông (Theravāda) và đã được ngài Indacanda Mahāthera phiên dịch đầy đủ ra Việt ngữ.[3]

311 giới của Tỳ-khưu-ni gồm:

  • 8 giới triệt khai (pārājika)
  • 17 giới tăng tàng (saṅghadisesa)
  • 30 giới ưng xả (nissaggiya)
  • 166 giới ưng đối trị (pācittiya)
  • 8 giới ưng phát lộ (pāṭidesaṇīya)
  • 75 giới ưng học pháp (sekhiya)
  • 7 giới điều diệt tranh (adhikaraṇasamathā dhammā)

Theo nguồn sử liệu Dīpavaṃsa[4] và Mahāvaṃsa,[5] đoàn Tỳ-khưu-ni từ Ấn Độ đến đảo quốc Sri Lanka vào thế kỷ III TCN, có chùa chiền tu viện và danh tánh đầy đủ các vị Tỳ-khưu-ni đi truyền đạo lúc ấy. Và một minh chứng lịch sử hùng hồn nhất cho dòng Tỳ-khưu-ni Sri Lanka là cội Bồ Đề đang hiện diện từ thời đó đến nay vẫn còn được bảo vệ tại đảo quốc này. Đây chính là nhánh cây Bồ Đề được chiết từ cây gốc tại Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ, do thánh ni Sanghamittā mang đến. Từ đó truyền thống Tỳ-khưu-ni được tiếp tục truyền thừa và phát triển tại Sri Lanka.

Vào thế kỷ thứ 10, đảo quốc Sri Lanka bị rơi vào sự cai trị của triều đại Cola (993 -1070).[6]Đây là triều đại theo đạo Hindu (Ấn giáo) thờ thần Saivite. Triều đại này kéo dài đến 77 năm nên Phật giáo Sri Lanka đã bị suy vong trong giai đoạn này. Khi vua Vijayabahu I (1070-1110) thắng trận, đứng lên giành lại chính quyền quốc gia dân tộc. Lúc này chỉ còn thấy vài Tỳ khưu sống sót trên đảo nên vua đã thỉnh mời tăng đoàn Tỳ-khưu từ Miến Điện sang làm lễ xuất gia phục hồi lại truyền thống Upasampada cho Tỳ-khưu ở Sri Lanka. Nhưng không có truyền thống Tỳ-khưu-ni Theravāda ở Miến Điện hay các quốc gia Theravāda khác. Nên kể từ thế kỷ 11 là mốc lịch sử xác định truyền thống Tỳ-khưu-ni Theravāda không còn truyền thừa trên thế giới.[7]

          2. Sự ra đời ni chúng Tu nữ

không còn truyền thống xuất gia Tỳ-khưu-ni nên để giải quyết tình trạng phụ nữ muốn xuất gia theo Phật giáo Nam tông (Theravāda), chư Tăng đã chấp nhận cho ra đời hình thức xuất gia Tu nữ như đang tồn tại hiện nay. Nghĩa là phụ nữ xuất gia bằng hình thức cạo tóc, mặc y phục tôn giáo theo quy định của mỗi xứ Phật giáo Nam tông, thọ quy giới (8 giới hoặc 10 giới) và 75 ưng học pháp[8] do chính chư Tăng Theravāda làm thầy tế độ, sống ở tịnh thất hay chùa chiền được chư Tăng cho phép. Từ đó, hệ thống Tu nữ Nam tông ra đời thay cho sự vắng bóng ni đoàn Tỳ-khưu-ni trong Phật giáo Nam tông (Theravāda) dưới sự công nhận của giáo hội Phật giáo tại các quốc gia có hệ phái Nam tông.[9]

Theo sử liệu ghi nhận, Miến Điện là xứ Phật giáo cho ra đời hệ thống Tu nữ sớm nhấttrong các nước có truyền thống Nam tông, kể từ thế kỷ 11 trong thời kỳ Phật giáo Pagan.[10]Theo số liệu năm 2020, trên toàn Miến Điện, có khoảng 75.000 vị Tu nữ [11]

Và từ đó, hệ thống Tu nữ dần dần cải thiện và phát triển lan tỏa ra các nước Theravāda dưới sự quản lí của giáo hội Phật giáo tại quốc gia đó.

Năm 1905, Tu nữ ở Sri Lanka được hình thành, Sudhammacārī là ni trưởng, là vị tu nữ đầu tiên sau khi xuất gia tu học trên đất Miến Điện nhiều năm trở về đảo quốc Lăng-ka, được sự ủng hộ của vợ chồng ông thống đốc Henry Blake thành lập ni chúng Tu nữ. Ngôi chùa Tu nữ đầu tiên tại Sri Lanka mang tên là Lady Blake Arama.[12]Đến năm 2020, Sri Lanka có khoảng gần 5.000 vị Tu nữ.[13]

Tại Thái Lan, ni chúng Tu nữ được biết đến từ những thập niên của 1960.[14] Số liệu năm 2020, trên toàn nước Thái Lan là có khoảng 30.000 vị Tu nữ.[15]

  1. Đời sống tu học của ni chúng Tu nữ Nam tông Việt Nam và thực trạng.

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tông phái Phật giáo du nhập và phát sinh nội tại, trong đó Phật giáo Nam tông Kinh được du nhập vào Việt Nam từ năm 1939.[16] Vị Tu nữ Nam tông đầu tiên là Sư Bà Trưởng Diệu Đáng (1924 – 1994). Sư Bà Trưởng được xuất gia Tu nữ năm 1941, theo truyền thống Nam tông tại Campuchia do Sư Tổ Hộ Tông hướng dẫn.[17] Sư Tổ vừa là thân sinh của Sư Bà Trưởng, cũng vừa là vị thầy tế độ dẫn dắt Sư Bà tu học. Sư Bà Trưởng thông thảo bảy ngôn ngữ: Việt, Pháp, Hoa, Khmer, Miến Điện, Pali và Thái Lan và là người Việt Nam đầu tiên đỗ chương trình Phật học bằng tiếng Miến Điện tại xứ quốc giáo này.[18] Sư Bà Trưởng là bậc trí thức có nền học vấn vững chắc, Sư Bà luôn sống trọn vẹn với đức hạnh khiêm hạ, với phương châm: “ học để tu”. Năm 1968, Sư Bà được Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam đề cử vào chức vị “Ni Trưởng” của ni chúng Tu nữ Nam tông Việt Nam. Với chức vị  lãnh đạo tối cao trong ni giới của một hệ phái Phật giáo, Sư Bà Trưởng đã chọn cách quản chúng bằng pháp sống chứ không dùng quyền lực. Sư Bà Trưởng luôn hướng đến bài học thân giáo từ chính hành động của mình để làm tấm gương cho hội chúng. Nhờ vào đức hạnh của bậc xuất gia như Sư Bà Trưởng nên cuốn hút hàng tín nữ xuất gia ngày càng đông tuy cuộc sống Tu nữ còn nhiều hạn chế về điều kiện tu học như phải tự túc về vật thực trong giai đoạn đầu. Sau khi xuất gia, gần như các vị Tu nữ đều nương vào sự trợ giúp chi phí tiêu dùng cũng như khi đau yếu bệnh tật thì gia đình là điểm nương tựa trọng yếu nhất chăm lo thuốc men. Nếu những vị Tu nữ không có người thân, không có gia đình hỗ trợ tài chánh, thì Sư Bà Trưởng sẽ đứng ra bảo bọc chăm sóc khi hữu sự. Khi gặp những trường hợp Tu nữ có khó khăn trong đời sống tu học, Sư Bà Trưởng sẽ thông báo đến Phật tử, nhờ chúng cư sĩ quyên góp hộ độ vị Tu nữ đó.[19]

Riêng phần trú xứ sau khi xuất gia, phần lớn các trú xứ của Tu nữ luôn trực thuộc vào chùa Tăng. Tại các chùa Tăng thường đều phân chia một góc nào đó trong khu vực đất chùa làm nơi xây dụng cốc liêu cho Tu nữ. Còn y phục Tu nữ sẽ được Phật tử dâng cúng hằng năm theo lễ dâng y Kathina của mỗi chùa. Khi thí chủ dâng y đến chư Tăng thì đồng thời cũng dâng y cho Tu nữ đang tu học tại chùa đó. Sắc phục y Tu nữ gồm hai kiểu đặc trưng theo truyền thống Tu nữ Miến Điện và Thái Lan. Nghĩa là y phục màu trắng (Thái Lan), y phục màu nâu hoặc hồng, vàng dưa lê (Miến Điện).

Theo dòng thời gian, ni chúng Tu nữ Nam tông Việt Nam đã tồn tại và phát triển đến nay được 85 năm. Trước 1975, ni chúng Tu nữ Nam tông sinh hoạt tu học dưới sự quản lí của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. Sau năm 1981, ni chúng Tu nữ được quản lí theo đơn vị chùa Nam tông. Kể từ sau năm 2009, Tu nữ Nam tông được đưa vào sự quản lí trực thuộc của Ban Tăng sự Trung ương, và được cấp giấy chứng nhận Tu nữ Phật giáo Nam tông nên đời sống tu học của Tu nữ cũng nhiều cải thiện hơn trước. Về trú xứ của Tu nữ, hiện nay đã thành lập được ba cơ sở tôn giáo chính thức của ni chúng Tu nữ Nam tông là: chùa Diệu Quang (quận Tân Bình, TP. HCM), Tịnh Thất Siêu Lý (huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ), chùa Như Pháp (Tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long); cùng với các hội chúng Tu nữ khác trực thuộc chùa Tăng luôn được phật tử quan tâm hộ độ cúng dường đầy đủ bốn món vật dụng: vật thực, y phục, thuốc men, cốc liêu và những phương tiện di chuyển cũng như phương tiện học vấn. Đến nay, nhiều vị Tu nữ đã đỗ đạt Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ trong và ngoài nước, và  thành công ở các chương trình Phật học truyền thống Pali, Abhidhamma tại Thái Lan.

Với sự phát triển của ni chúng Tu nữ, năm 2020, quỹ Hộ trì Tu nữ Nam tông Việt Nam ra đời để giúp đỡ hỗ trợ Tu nữ khi tuổi già đau yếu, bệnh tật. Quỹ được sự quan tâm của chư Tăng Ni Phật tử từ nhiều nơi đóng góp. Quỹ được sự điều phối bởi sư cô Achan Diệu Tâm, chùa Diệu Quang, quận Tân Bình, TP. HCM và sư cô Mỹ Thúy, chùa Như Pháp, tỉnh Vĩnh Long  là thư ký kiêm thủ quỹ.

Theo số liệu thống kê năm 2021, số lượng Tu nữ Nam tông tại Việt Nam khoảng 800 vị tính từ thời Sư Bà Trưởng Diệu Đáng đến thời điểm này và đang tu học tại các ngôi chùa thuộc Phật giáo Nam tông trên 20 tỉnh thành của cả nước.[20]

Cùng với dòng chảy lịch sử, đến nay Tu nữ Nam tông trên thế giới nói chung và Tu nữ Nam Tông tại Việt Nam đã và đang phát triển với đầy đủ sứ mệnh của một vị tu sĩ sống và thực hành lời dạy của Đức Phật, là một vị thừa tự giáo pháp.

[1]Bát Kỉnh Pháp là tám pháp quan trọng được coi như nền tảng giới luật đầu tiên cho hàng nữ giới xuất gia.

[2]Căn cứ vào chú giải Phật tông (Buddhavaṃsa-aṭṭhakathā) ghi nhận  vào hạ thứ 5, đức Thế Tôn ngụ tại Mahāvana thành Vesāli, và căn cứ vào thời gian sự kiện bà Gotami xin xuất gia thì mốc lịch sử hình thành Ni đoàn Tỳ Khưu ni được xác định vào hạ thứ 5 tại Vesāli .

[3]Tỳ khưu Indachanda (dịch Việt, 2009), Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni, https://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/03/03_00.html, ngày truy cập: 10/01/2023.

[4]Tỳ khưu Indachanda (dịch Việt, 2005), Dīpavaṁsa (Đảo Sử): là tài liệu sử tiếng Pāli cổ nhất còn được lưu truyền lại nhưng không có tên tác giả, https://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/VHoc_59.htm, ngày truy cập: 10/01/2023.

[5]Tỳ khưu Minh Huệ (dịch Việt, 2007), Mahāvaṃsa (Đại Vương Thống Sử), là tài liệu sử về hòn đảo Laṅkā từ thời điểm khởi nguyên cho đến đầu thế kỷ thứ 18 được viết theo thể kệ thơ gāthā bằng tiếng Pāli do các nhà sư Sri Lanka biên soạn,  https://budsas.net/uni/u-thong-su/thongsu-00.htm , ngày truy cập 10/01/2023.

 

[6] Nath Yogasundram, A Comprehensive History of Sri Lanka from Prehistoric Times to the Present, Sri Lanka: Vijitha Yapa Publications, 2010, p.110.

[7] TS. Kim Lan (2020), Nguồn Gốc Tu Nữ Nam Tông, (sẽ xuất bản), tr. 32.

[8] Ưng học pháp gồm có 75 điều giới quy định về oai nghi tế hạnh của bậc xuất gia trong cách hành xử trong đời sống hằng ngày.

[9] TS. Kim Lan (2020), Nguồn Gốc Tu Nữ Nam Tông, (sẽ xuất bản), tr. 40.

[10]Rawe Htun, The Modern Nun, Uthin Shein (03763) San Young Shein, 2001, p.41.

[11]Số liệu được cung cấp bởi Sư Aggadhamma, Tăng sĩ Miến Điện, hiện đang là nghiên cứu sinh Tiến sĩ trường đại học Phật giáo quốc SITAGU vùng Sagaing, Miến Điện. (ngày 12/02/2020).

[12]Bhikkhuni Kusuma, The Dasasil Nun (PhD Thesis). University of Sri Jayawardenepura, 1987, p.103.

[13]Thông tin được cung cấp từ ngài Moragollagama Uparathana, the Dean of Faculty of Graduate Studies, the Buddhist and Pali University of Sri Lanka. (18/05/2020).

[14]Điều được biết từ lời giải thích của Maechee Wallapha, một vị tu nữ Thái chùa Nekkhammabhirumsathan Wat brumniwat, Bangkok, nơi tác giả tu học  vào 2006 – 2008.

[15]Số lượng này tính trong năm 2020, được cung cấp từ sư cô Sukaññā Theri (TN. Diệu Tịnh) cung cấp. Sư cô trụ xứ tại chùa Bửu Long, số 81, Nguyễn Xiển, Long Bình, Quận 9, TP. HCM. Sư cô Diệu Tịnh đã liên lạc hỏi ni trưởng Karuna  Podhiraksa, the abbot of Santimakom tại Thái Lan để cho thông tin số liệu Tu Nữ Thái. (29/05/2020).

[16] Huynh Kim Lan (2010), A Study of Theravāda Buddhism in Vietnam. Bangkok, Mahachulalongkornrajavidyalaya University, p.20.

[17]Sư tổ Hộ Tông là vị tăng thống đầu tiên của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam.

[18] Tỳ kheo Thích Đồng Bổn (chủ biên) (2022), Phật học Từ Quang tập 40, Sư Bà Trưởng Diệu Đáng – Ni Tổ Nam Tông Việt Nam. Nxb. Hồng Đức,  tr.85.

[19] Sư Bà Diệu Hóa (phỏng vấn), là ni trưởng của ni chúng Tu nữ chùa Bửu Long, tp. Thủ Đức, tp. HCM, ngày 20/12/2022.

[20] TS. Kim Lan (2021), Danh Sách Tu Nữ Nam Tông Việt Nam – Kỷ Niệm 80 năm thành lập ni chúng Tu Nữ Nam tông Việt Nam (1941 – 2021), (lưu hành nội bộ).

marsbahis güncel giriş marsbahis giriş marsbahis holiganbet güncel giriş holiganbet giriş holiganbet elitbahis güncel giriş elitbahis giriş elitbahis sex child porn porn porno porno porn child porn child porn porn porno porno child porn porn kulisbet meritking güncel giriş meritking giriş meritking meritking giriş meritking meritking güncel giriş meritking giriş meritking meritking giriş meritking